• gggg_67af9c1ebb
  • 7_fc19a8f14e
  • TANUYEN2_94f320dc9a
  • TAU2_0e1f9c8391
  • 5_a2ca8e4da3
  • 4_1572ca87ff
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hỏi đáp về Bộ luật lao động năm 2019

Người thực hiện: Trần Thị Nhung
Chức vụ, đơn vị: Trưởng phòng Tư pháp huyện Tân Uyên.

 

1.Anh H ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với một công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Anh được công ty đào tạo để làm việc cho công ty và đã làm việc tại công ty được 3 năm. Anh H muốn chấm dứt hợp đồng lao động có được không và nếu được anh H có phải đền bù cho công ty không?
Trả lời.
Theo quy định tại khoản a, điều 45 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất cứ lúc nào và phải thông báo trước lý do cho người sử dụng lao động trước 45 ngày.
Như vậy anh H có thể chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho công ty trước 45 ngày. Nếu anh H vi phạm thời hạn báo trước thì thì không được hưởng trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho công ty nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước theo quy định tại điều 40 Bộ luật Lao động năm 2019. Ngoài ra anh H được công ty đào tạo khi vào làm việc do đó anh H phải hoàn trả lại cho công ty chi phí đào tạo khi chấm dứt hợp đồng lao động.
2. Hỏi: Chị K làm việc cho một doanh nghiệp theo hợp đồng lao động có thời hạn. Tháng 3/2020 chị được xác nhận là mang thai và có xác nhận của cơ sở y tế là việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tời thai nhi. Chị thông báo cho công ty xin nghỉ việc trước 45 ngày trước khi thôi việc. Hỏi trường hợp của chị có vi phạm hợp đồng lao động không?
Trả lời
Theo Khoản 2 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải báo trước cho người sử dụng lao động trong các trường hợp sau đây:
- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được đảm bảo điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động ( Không quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm hoặc quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm nếu người lao động đồng ý bằng văn bản) khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp người sử dụng lao động trả lương chậm không quá 30 ngày vì lí do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn.
- Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, hành vi cưỡng bức lao động.
- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc
- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc có xác nhận của cơ sở  khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng mà người lao động yêu cầu làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Như vậy trường hợp của chị K hoàn toàn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không vi phạm hợp đồng lao động.
 


Tác giả: Trần Thị Nhung - Trưởng phòng tư pháp
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
Bản đồ
Bình chọn
Thông tin nào trên Cổng TTĐT tỉnh mà bạn quan tâm nhất?
Thống kê truy cập
Hôm nay : 193
Hôm qua : 371